Đầu tiên BIOS kiểm tra các thông tin được lưu trên phần bộ nhớ rất nhỏ (64 bytes) trên CMOS Chip (Complementary Metal Oxide Semiconductor). Các cài đặt trong CMOS sẽ cung cấp những thông tin chi tiết cho hệ thống. BIOS sử dụng những thông tin này để thay đổi hay bổ xung các chương trình chuẩn mà nó phải thực hiện. Bộ điều khiển ngắt (Interrupt Handlers) là tập hợp các chương trình nhỏ hoạt động như bộ phận thông dịch truyền tin giữa các thành phần phần cứng và hệ điều hành. Chẳng hạn như khi người sử dụng nhấn một phím trên bàn phím, tín hiệu sẽ được gửi đến bộ điều khiển ngắt bàn phím để rồi nó dược thông báo tới CPU và chuyển tới hệ điều hành. Các Driver của thiết bị cũng là các phần mềm để nhận dạng các thành phần phần cứng như bàn phím, chuột, ổ đĩa. Từ đó BIOS liên tục chặn các tín hiệu đến và đi từ các thiết bị phần cứng, nó được sao chép (Copy) vào RAM để tăng tốc độ xử lý. Bất kỳ lúc nào khi người sử dụng bật máy tính lên, điều đầu tiên họ sẽ nhận thấy sự hoạt động của chương trình BIOS. Trên màn hình máy tính, BIOS sẽ đưa ra các thông báo dưới dạng text về độ lớn của bộ nhớ, kiểu của ổ đĩa cứng... Nhìn chung BIOS đã thực thi một khối lượng đáng kể công việc trong quá trình khởi động. Sau khi kiểm tra CMOS Setup và nạp các bộ điều khiển ngắt, BIOS quyết định Video Card có được kích hoạt hay không. Hầu hết các loại Video Card đều có một BIOS nhỏ trên nó để gán các giá trị cho bộ nhớ và bộ xử lý ảnh trên Card. Nếu không được kích hoạt thì BIOS chỉ nạp các thông tin về Driver của màn hình lưu trên các bộ nhớ ROM khác trên Motherboard. Tiếp theo BIOS kiểm tra xem máy tính khởi động ở hình thức Cold-boot hay Reboot. Để làm được điều này, nó chỉ cần kiểm tra ở vùng bộ nhớ có địa chỉ 0000:0472. Nếu máy tính được Reboot thì vùng nhớ này sẽ có giá trị 1234h, khi đó BIOS sẽ bỏ qua giai đoạn POST. Các giá trị khác của vùng nhớ trên chỉ ra rằng máy tính khởi động với Cold-boot. Khi máy tính thực hiện Cold-boot, BIOS kiểm tra RAM bằng cách thử đọc/ghi trên từng vùng nhớ. Nó kiểm tra các cổng PS/2 hoặc USB để tìm xem có các thiết bị bàn phím hay chuột không. Sau đó nó tiếp tục kiểm tra xem có PCI Bus nào không, nếu có nó sẽ kiểm tra tất cả các PCI Card. Nếu phát hiện ra bất kỳ lỗi nào trong quá trình POST, BIOS sẽ thông báo bằng các tiếng “Bip” liên tục hoặc thể hiện trên màn hình. Lỗi xảy ra trong giai đoạn này có nguyên nhân chắc chắn là do các thiết bị phần cứng. BIOS tiếp tục thông báo các thông tin chi tiết về hệ thống như: bộ vi xử lý, các ổ đĩa, bộ nhớ, màn hình. Mọi thiết bị đặc biệt như SCSI Adaptor (Small Computer System Interface) trong khi khởi động đều được BIOS thông báo trạng thái trên màn hình. Đôi khi máy tính cũng cần phải nâng cấp (Update) lại BIOS của nó nhất là đối với các máy tính cũ. Với các thiết bị mới và các chuẩn mới, BIOS cần thay đổi theo để phù hợp. Do BIOS được lưu trong ROM nên việc thay đổi nó khó hơn việc nâng cấp các phần mềm thông thường. Để làm được việc này cần có một chương trình đặc biệt từ các nhà sản xuất máy tính hoặc nhà sản xuất BIOS. Giống như việc thay đổi các thông số trong CMOS, phải hết sức cẩn thận khi nâng cấp BIOS. Phải chắc chắn rằng bản nâng cấp BIOS tương thích với máy tính nếu không BIOS sẽ không thể hoạt động và khi đó sẽ không thể khởi động được máy tính. |

